Make your own free website on Tripod.com

Tác giả NGỤC TRUNG NHẬT KÝ là ai?

Đỗ Thông Minh
 

Tháng 10-11/2008.

Kính thưa quý Độc giả các Diễn Đàn,

Từ 20 năm nay, Tạp Chí Dân Văn chủ trương và cổ vũ việc tranh luận về học thuật và văn học, để tìm ra điểm đúng nhất cho hậu thế noi theo…

Một bài viết của Anh Đỗ Thông Minh, đang cư trú tại Nhật Bản, về tác phẩm NGỤC TRUNG NHẬT KÝ, mà bọn phỉ quyền Hà Nội in ấn phổ biến trong nước, là của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã chết, nhưng bọn đàn em của ông ta còn sống ở trong nước trả lời ra sao về các câu hỏi cũng như dẫn chứng minh bạch của tác giả Đỗ Thông Minh?

Bài này được chia làm 5 kỳ với 2 font Unicode và VietNet. Qúy vị nào cần trọn bài, xin liên lạc với TCDV, chúng tôi sẽ gởi đến hầu quý vị.

Trân trọng,

Germany, 02.11.2008
Chủ Nhiệm TCDV,
Lý Trung Tín

NHẬT KÝ TRONG TÙ
獄中日記

Bìa Ngục Trung Nhật Ký
Bìa Ngục Trung Nhật Ký - Có viết bài "Vô Đề".
 

(無 題)

精欲精身
神成神体
更大在在
要事獄獄
大業外中

(Vô đề)

Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại.

(Người dịch không rõ)

(Không đề)

Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần phải càng cao.

Tham khảo các bài của BBC, Lê Hữu Mục (2003), Đỗ Nam Hải, Tâm Việt (2007), trang nhà Thi Viên, VN Thư Quán, Internet…

dtm2.jpgMột trong số 60 bài về "Nhật Ký Trong Tù" đăng trong một cuốn sách là của tác giả Trần Dân Tiên (chính là Hồ Chí Minh), giới thiệu về "Cụ Hồ thời gian ở tù bên Trung Quốc".

Mặc dù người viết bài này cũng như không mấy ai được xem trọn vẹn bản gốc vì bản gốc cũng giống như "Di Chúc Hồ Chí Minh" hầu như không được phổ biến đầy đủ để tha hồ tuyên truyền tùy theo tình hình. Nhưng qua những gì chúng ta biết được, cũng có thể thấy hàng chục điều chứng tỏ Hồ Chí Minh không phải là tác giả của tập thơ. Cuốn sổ tay được nói là gồm phần đầu là thơ với 53 trang và phần sau ghi chép cũng bằng chữ Hán, nhưng nét bút khác hẳn và có thêm chú thích tiếng Việt và Pháp.

Cuốn này nguyên từ Trung Quốc lưu lạc qua Việt Nam, hay HCM mang về, bị bỏ quên ở chỗ nào đó, sau mới được lôi ra và trao cho trách nhiệm đánh bóng HCM… theo đúng tinh thần cực kỳ tự ái, luôn muốn tự đề cao và muốn người khác lầm tưởng mà đề cao mình của HCM.
 

- Xem 120/133 bài thơ Đường… ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt hay bát cú… bằng chữ Hán, Hán-Việt và dịch: - http://www.thivien.net/viewpoemgroup.php?ID=6

- http://vnthuquan.net/TRUYEN/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnn1ntn31n343tq83a3q3m3237ntn

- Ngục Trung Nhật Ký trên Wikipedia
  http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_k%C3%BD_trong_t%C3%B9

- BBC - http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/05/050520_nhatkytrongtu.shtml

- - - - -

Ngục Trung Nhật Ký - 獄中日記

dtm3.jpgdtm4.jpg
Nét bút của người Hoa, nhưng còn non, chưa cứng lắm.

 "Ngục Trung Nhật Ký" được nói là của Hồ Chí Minh viết lúc bị tù lần thứ 2 ở Quảng Tây. Nhưng ít nhất hàng chục dữ kiện về nét bút và nội dung cho thấy cuốn sách này của một người Hoa, bìa sách ghi thời gian ở tù và sáng tác là:

29.8.1932
10.9.1933

(hơi nghiêng trái\, dùng chấm "." và không có gạch nối "-" giữa 2 ngày), được thêm ngày bị giam "theo Hồ Chí Minh nói hay viết" ở bìa sau:

29-8-1942
      -
10-9-1943

(nghiêng phải /, dùng gạch nối "-" và có gạch nối "-" giữa 2 ngày) với nét bút khác.

Do đó, thời gian bị giam cũng có thể đã được chế ra, ghi cho hợp với bìa trước cuốn sách chứ không thật, chỉ sai biệt đúng 10 năm cho tạm hợp với năm tù thật?

2 nét bút rõ ràng khác nhau 1 bên nghiêng từ trái qua phải, 1 bên nghiêng từ phải qua trái, một bên dùng chấm, 1 bên dùng gạch ngang.

Xem trang nhà:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/08/080820_hoangtranh.shtml
 

dtm6.jpgdtm5.jpgSo với nét bút khi Hồ Chí Minh viết thư cho vợ người Hoa là Tăng Tuyết Minh năm 1928 (bên phải) thì nét bút đã rất cứng, rất tới, chứng tỏ cũng rành chữ Hán (như vậy là văn hóa giật lùi!?).

Để dễ nhận biết, so với chữ "trung" (中) nét vuông và ngang trên thì trong lưu bút tại Bắc Kinh năm 1968 (Việt-Trung hữu nghị, Vạn cổ trường thanh.) (bên trái) và các nơi khác đều với chữ nét tròn và nghiêng… thì khác hẳn.

dtm7.jpg

Có thể xem thêm về chữ Hán cuốn "Chủ Tịch Hồ Chí Minh Bút Danh & Bút Tích", nhà xuất bản Văn Hóa - Thông Tin, ngày 10/1/2007.

dtm8.jpg - Trích bìa "Bản Án Chế Độ" viết năm 1921, xuất bản năm 1925.
dtm9.jpg

- Trích thư báo cáo về việc lập Chính Phủ Lâm Thời gửi Trần Tướng Quân (Trung Quốc) ngày 19/12/1945.

Hồ Chí Minh lấy sách của người ta đưa cho đàn em in, nhưng khi được hỏi không dám khẳng định là của mình. Trong khi đàn em và đám bồi bút cứ thế nhắm mắt ca tụng. Những dữ kiện cho thấy của người khác qua việc Hồ Chí Minh với bút danh Trần Dân Tiên viết về chuyện bị bắt giam.

- - - - -

Là người Việt Nam, một đảng viên CS quốc tế, thế mà không thấy trong tập thơ nói gì tới đất nước và chủ nghĩa CS cả, mà lại nói về Trung Hoa Quốc Dân Đảng!? Tập thơ phải là một người Hoa theo Quốc Dân Đảng nhưng vì lý do nào đó bị bắt.
 

Ba bài đầu trong Nhật Trung Nhật Ký

Khai quyển

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục
 

Về Một Số Bài Thơ

Bài 2, Khai Quyển (Mở đầu tập nhật ký), tác giả tự xưng là Lão Phu, chỉ người già, khi đó Hồ Chí Minh khoảng 51-52 tuổi, chưa thể tự coi mình là "lão phu". Dịch giả chỉ dám dịch là "ta" trống không.

Bài 5, Thế Lộ Nan (Đường đời hiểm trở), có thật bài này hay 4 câu giữa nằm trong Ngục Trung Nhật Ký không, hay được thêm vào vì cả 133+1 bài mà không bài nào nói tới Việt Nam thì kỳ?

Thế Lộ Nan

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham
Na tri bình lộ cánh nan kham
Cao sơn lộ hổ chung vô dạng
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.
 
Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân
Vô nại phong ba bình địa khởi
Tống dư nhập ngụ tác gia tân

 
Trung thành ngã bản vô tâm cứu
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian
Xử thế nguyên lai phi dị dị
Nhi kim xử thế cánh nan nan.

(Nam Trân dịch)

Đường đời hiểm trở

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao?!
 
Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm "khách quý" ở nhà giam!

 
Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khăn hơn.

Có nhiều thể thơ, hầu hết các bài trong tập này thuộc thể "Ngũ ngôn", "Tứ tuyệt", "Thất ngôn bát cú"… nhưng đây là bài duy nhất thuộc thể "Thất ngôn thập nhị cú" tác giả viết? Tác giả nếu là người Việt sao lại bị coi là "Hán gian", tại sao bài 42 Nhai Thượng cũng lập lại chuyện "Hán gian" này!?

dtm10.jpgTheo tác giả Tâm Việt: "Trong bài "Thế lộ nan", tác giả có đề cập đến từ Việt. Đối với người Quảng: Quảng Đông, Quảng Tây... Tiếng của họ được gọi là "Việt ngữ" (粵語) và đất của họ được gọi là Việt địa, Yue. Việt cũng là đất của Việt Vương Câu Tiễn, Việt địa cựu sơn hà. Tại Trung Quốc, tiếng Quảng Đông còn được gọi là "Việt ngữ" vì hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, nguyên trước là đất của dân tộc Bách Việt (百粵), nên họ gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt."

Nhất là Quảng Đông, bảng số xe tỉnh này đều bắt đầu bằng "粵". Cũng có khi họ dùng越. Họ gọi chung người Việt Nam là người Kinh (京). Bản gốc dùng chữ "Việt" nào, 越 hay 粵?

- - - - -

Tiến Sĩ Đinh Thế Dũng ở Melbourne, Úc, biết tiếng Nhật (trong có chữ Hán), tiếng Anh, tiếng Pháp, lại là một nhà thơ, đã góp ý khi đọc bản thảo bài viết này của chúng tôi.

Theo thiển ý, anh đưa 3 nhận xét mới cần lưu ý:

1- Cần có bản chính gồm đủ mọi bài và bút tự để kiểm chứng.

2- Nhận xét về bút tự từng trang, so sánh với bút tự mà Hồ Chí Minh đã viết (chữ Hán, và số) ở những nơi khác.

3- Bài Thế Lộ Nan rất đặc biệt: Bài này là bài duy nhất nói rõ tư cách đại biểu Việt Nam, thế nhưng rất lạ vì thể thơ toàn cuốn hình như là thể thơ Trung Hoa (tứ tuyệt là nhiều nhất), và bài này mà ở thất ngôn bát cú thì đúng là thể thơ người Trung Hoa miền Nam (những vùng Quảng Đông & Quảng Tây... rất thích). Thử bỏ đi 4 câu giữa, ý thơ đi xuyên suốt và 1 vần, câu 3 đối câu 4, câu 5 đối câu 6.

Kết luận: Nếu đây là bài thơ 8 câu 7 chữ thì chỉnh lắm. Cần phải có bản chính để đối khảo nét chữ.

Bài thơ 3 đoạn 4 câu 7 chữ, không chung vần từ đoạn này qua đoạn khác (kiểu Nam Trân dịch) có vẻ lạc lõng vì nó mang tích thơ mới, trong khi gần như toàn bài được chọn đăng lại là thờ Trung Hoa cổ điển.

Trong bài Thế Lộ Nan, đoạn mà tỏ rõ "danh nghĩa" Việt Nam nhất cần phải suy xét thật kỹ, không biết có thêm vào không. Đọc kỹ 4 câu chót, đây là khẩu khí của một người than thở về cách đối xử với đồng bào, hàng xóm, chỗ thân quen (vì vậy mới đem chuyện xử thế, nôm na là ăn ở ngày xưa và ngày nay). Nếu là một ông đại biểu VN thì lại "lãng xẹt" về cả nội dung đến hình thức!

Khi Nam Trân dịch thì mất hẳn tính thơ Đường, và tìm cách đưa bài Thế Lộ Nam một hình ảnh khác với hình ảnh của một người than thở là đường đời khó khăn. Hồ Chí Minh không có giọng điệu than thở như vậy, vì trong thơ phải có "thép" mà. Do đó, tôi đồng ý với anh là bài "Thế Lộ Nan" cần phải được đặt lại vấn đề.

- - - - -

Bài 40, Lạc Liễu Nhất Chích Nha (Rụng mất một chiếc răng), Hồ Chí Minh chưa già làm gì mà rụng răng, hình ảnh nào Hồ Chí Minh sún răng không?

Bài 42, Nhai Thượng (Trên đường phố), Hồ Chí Minh là người Việt thì sao bị coi là "Hán Gian"?

Nhai Thượng

Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian
Hán gian dữ ngã bản vô can
Vô can nhưng thị hiềm nghi phạm
Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.

(Nam Trân dịch)

Trên đường phố

Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian,
Hán gian, ta vốn thực vô can;
Vô can vẫn bị nghi là có,
Thực khiến lòng ta lạnh tới gan.

Bài 5 Thế Lộ Nam cũng đã đề cập tới chuyện "Hán gian" này.

Bài 44, Trưng Binh Gia Quyến (Gia quyến bị bắt lính), nhà Hồ Chí Minh đâu có ai bị trưng binh đâu mà đem tâm tình ấy ra than thở?

Trưng Binh Gia Quyến

Lang quân nhất khứ bất hồi đầu
Sử thiếp khuê trung độc bão sầu
Đương cục khả liên dư tịch mịch
Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.

 (Nam Trân dịch)

Gia quyến người bị bắt lính

Biền biệt anh đi không trở lại,
Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;
Quan trên xót nỗi em cô quạnh,
Nên lại mời em tạm ở tù.

Bài 59, Thụy Bất Trước (Không ngủ được) có câu: "Mộng hồn hoàn nhiễm ngũ tiêm tinh", nên dịch là "Sao năm cánh nhọn mộng hồn quanh", tại sao Nam Trân lại dịch là: "Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh?". Đâu có chữ nào nói tới màu vàng, đây là lối dịch của văn nô, gượng ép kéo bài thơ vào chuyện Việt Nam vì hầu như cả tập thơ quên không nói tới quê hương, dân tộc.

Thụy Bất Trước

Nhất canh... nhị canh... hựu tam canh,
Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành;
Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn,
Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh.

 (Nam Trân dịch)

Không ngủ được

Một canh... hai canh... lại ba canh,
Trằn trọc băn khoăn, giấc chẳng thành;
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt,
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

Theo tác giả Tâm Việt: "Trong bài Thụy Bất Trước, câu "Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh" 夢魂 環繞五尖星 (The dream-soul surrounds with five sharp stars), ý của tác giả là bày tỏ giấc mơ may mắn cho mình và thịnh vượng cho tổ quốc mình.

Thật vậy, trong Sấm Trạng Trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có câu: "Năm Giáp Tý vẻ khuê đã rạng - Lộ ngũ tinh trinh tượng thái hanh.". Biểu tượng ngũ tinh là điềm may mắn mưa thuận gió hòa, nhân tình yên ổn.".

Như trong cuốn "Kỷ Niệm 100 Năm Phong Trào Đông Du" của chúng tôi đã trình bày, cờ của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo đã dùng hình ảnh "Ngũ Tinh Liên Châu" (4 chấm tròn trắng tại 4 góc hình chữ nhật và 1 chấm tròn ở giữa lien kết với nhau bằng 2 đường chéo), đó là hiện tượng đặc biệt cứ một chu kỳ 60 năm (một hội) thì cả 5 ngôi sao nổi tiếng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa Thổ tuy quay theo qũy đạo khác nhau, tốc độ khác nhau, nhưng cùng đứng về một phía. Theo quan niệm Đông Phương, đó là biểu tượng kỳ diệu và may mắn. Vậy "ngũ tiêm tinh" không phải là "sao 5 cánh" mà là "5 ngôi sao nhọn".

Bài 61, Thế Nan Hữu Mẫn Tả Báo Cáo (Viết hộ báo cáo cho các bạn tù), Hồ Chí Minh là người Việt đi viết đơn tiếng Hoa cho người Hoa sao lạ vậy?

Thân thế của tác giả cũng được biểu lộ, là người có đủ kiến thức về luật pháp để viết các đơn kiện cho các bạn tù, với sách luật có sẵn để tra cứu... "Phụng Thử", "Đẳng Nhân" (là đồng đẳng) trong tư pháp, hành chính vừa mới học, chứ không có nghĩa "thừa lệnh" như dịch giả viết.

Thế Nan Hữu Mẫn Tả Báo Cáo

Đồng chu cộng tế nghĩa nan từ,
Thế hữu biên tu báo cáo thư;
"Phụng thử", "đẳng nhân" kim thủy học,
Đa đa bác đắc cảm ân từ.

(Nam Trân dịch)

Viết hộ báo cáo cho các bạn tù

Cùng hội cùng thuyền nên phải giúp,
Viết thay báo cáo dám từ nan;
"Chiểu theo", "thừa lệnh" (?)nay vừa học,
Đã được bao lời bạn cảm ơn.

Bài 64, Song Thập Nhất (11-11), Hồ Chí Minh bị quân Tưởng Giới Thạch bắt thì mắc mớ gì nhớ ngày chấm dứt Thế Chiến Thứ 1 (1914-1918), cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật xâm lược của nhân dân Trung Quốc, tính từ ngày 7-7-1937 đến cuối năm 1942 là gần 6 năm và hô hào quân Trung Hoa phản công quân Nhật này…

Bài 74, Ngục Đinh Thiết Ngã Chi Sĩ Đích (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta), Hồ Chí Minh khoảng 51-52 tuổi thì làm gì đã chống gậy sớm vậy? Ai lại cho phép đem gậy vào trong tù trừ khi người đó quá già yếu, không thể tự đi lại được?

Ngục Đinh Thiết Ngã Chi Sĩ Đích

Nhất sinh chính trực hựu kiên cương,
Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương;
Hận bỉ gian nhân ly ngã lưỡng,
Trường giao ngã nhĩ các thê lương.

(Nam Trân dịch)

Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta

Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường,
Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương;
Giận kẻ gian kia gây cách biệt,
Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.

Theo tác giả Tâm Việt: "Chiếc gậy đã là bạn đồng hành của tác giả qua bao nhiêu năm dài. (Huề thủ đồng hành kỷ tuyết sương), chứng tỏ tác giả già yếu từ lâu, mà chiếc gậy này chắc chắn không phải là chiếc gậy thường vì giá trị của nó đi với uy thế của tác giả - đó là sự chính trực và kiên cường của vị quan thanh liêm. (Nhất sinh chính trực hựu kiên cương).".

Đọc lại bài "Thất Cửu" trong cuốn Giáo Trình Chữ Hán của Lê Văn Quán, trang 22, do nhà xuất bản Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp Hà Nội năm 1978 để thấy có chỗ HCM khoe mình khỏe như thế nào.

(63 tuổi, nếu tính HCM sinh năm 1890 thì bài này làm năm 1953?)

Thất Cửu

Nhân vi ngũ tuần thường thán lao?,
Ngã kim thất cửu chinh khang cường,
Tụ cung thanh đạm tinh thần sảng,
Tố sự thung dung nhật nguyệt trường.

(Xuân Thủy dịch)

Sáu mươi ba tuổi

Chưa năm mươi tuổi đã than già,
Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đương trai,
Sống quen thanh đạm nhẹ người,
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung.

Bài 90, Tứ Cá Nguyệt Liễu (Bốn tháng rồi), Hồ Chí Minh đã già đâu mà nói răng rụng mất một chiếc, nhất là tóc bạc thêm mấy phần, tức đã bạc và nay bạc thêm nhiều?

Tứ cá nguyệt liễu

Lạc liễu nhất chích nha,
Phát bạch liễu hứa đa,
Hắc sấu tượng ngã quỷ,
Toàn thân thị lại sa.

(Nam Trân dịch)

Bốn tháng rồi

Răng rụng mất một chiếc,
Tóc bạc thêm mấy phần,
Gầy đen như quỷ đói,
Ghẻ lở mọc đầy thân.

Bài 98, Mộng Ưu Đãi (Được ưu đãi), qua bạn bè và liên hệ quyền thế, chúng ta có thể biết địa vị chức vụ của tác giả. Trong khi HCM viết thời kỳ này là bị cùm gông, lê lết…

Mộng Ưu Đãi

Ngật câu phạn thái, thụy câu chiên
Hựu cấp linh tiền mãi báo, yên
Chủ nhiệm Lương công ưu đãi ngã
Ngã tâm cảm khích bất thăng ngôn

 (Huệ Chi dịch)

Được ưu đãi

Ăn có cơm rau, ngủ có mền
Báo xem, thuốc hút: cấp cho tiền
Ông Lương chủ nhiệm đãi ta hậu
Cảm kích lòng ta, chẳng nói nên.

HCM từng kể trong cuốn "Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" là lần ở tù này bị cùm gông, lê lết cơ mà!? Và không hề có chỗ nào viết là đã từng làm cả tập thơ trong tù Quảng Tây cả.

Theo tác giả Tâm Việt: "Tác giả là một viên chức của TH Quốc Dân Đảng nên trong thời gian bị nghi ngờ vẫn được quyền lợi hơn hẳn những người tù bình thường. Ông cũng ca ngợi đưa chi tiết tài đánh giặc từ Hồ Nam, Chiết Giang, Miến Điện đến Vân Nam của tướng bạn và vui mừng khi bạn được thăng chức tướng, bài 109 (Lương Hoa Thịnh Tướng Quân Thăng Nhậm Phó Tư Lệnh). Khi ở tù, ông cũng được các viên chức đến thăm viếng, bài 102 (Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên).

Với sự quen biết thân thiết với tướng Lương Hoa Thịnh, ông đã có giọng văn kẻ cả với đàn em đệ tử của vị tướng này, bài 110 (Tặng Tiểu Hầu (Hải)) trong câu "Vô phụ Lương công giáo dục tình". Thêm nữa qua câu "Thượng trung đảng, quốc, hạ trung dân", chúng ta biết tác giả đảng viên đã sống theo câu nói này mà truyền lại cho người nghe là Tiểu Hầu.

Vì là bạn thân lâu đời của tướng Lương Hoa Thịnh nên tác giả được cung cấp mọi nhu cầu từ kinh tế đến tư tưởng. Vì biết nhau đã lâu nên các chiến công đánh Nam dẹp Bắc của tướng Lương Hoa Thịnh đều được tác giả ghi nhận và ca ngợi."

Bài 91, "Bệnh Trọng" (Ốm nặng). Theo tác giả Tâm Việt: "Tác giả đã ví thân thể mình như là nơi của cuộc chiến như tại đất Việt xưa, nơi Ngô-Việt giao tranh. Thường thường, bị bệnh vì khi bên trong tâm sinh lý không vững chãi thì một cơn gió lạnh hoặc một trận nóng ngắn cũng làm dao động cơ thể thành bệnh nặng. Nột thương ngoại cảm là danh từ thường được dùng để chỉ bệnh chứng như thế nào. Nội thương có thể là nhớ nhà, uất hận, buồn chán, tâm bệnh như tương tư hoặc ăn uống thiếu thốn nên cơ thể suy nhược - còn ngoại cảm là bị thời tiết, nơi ở, môi trường chung quanh ảnh hưởng. Người dịch Nam Trân đã cố ý dịch sai là "Nội thương" đất Việt cảnh lầm than" để đem Việt Nam, vùng Đông Dương ra khích động cảm xúc thù hận chiến đấu.

"Nội thương Việt địa cựu sơn hà", theo nghĩa đen là trong lòng nhớ thương đất Việt (chỉ Quảng Đông - Quảng Tây) núi sông xưa.

"Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt", nghĩa là còn bây giờ là Trung Hoa với cái cảm lạnh của khí trời mà thành bệnh. Ông so sánh quá khứ đất cũ là Việt địa và bây giờ là đất Trung Hoa."

Bệnh Trọng

Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt,
Nội thương Việt địa cựu sơn hà;
Ngục trung hại bệnh chân tân khổ,
Bản ưng thống khốc khước cuồng ca.

 (Nam Trân dịch)

Ốm nặng

"Ngoại cảm" trời Hoa cơn nóng lạnh,
"Nội thương" đất Việt cảnh lầm than;
Ở tù mắc bệnh càng cay đắng,
Đáng khóc mà ta cứ hát tràn!

Cũng theo tác giả Tâm Việt: "Việt Nữ Kiếm 越女 劍 (Sword of the Yue Maiden) là một câu chuyện của Kim Dung do một người Trung Hoa viết, nếu không hiểu đầu đuôi, mọi người Việt Nam cũng tưởng là câu chuyện nói về các anh thư Việt Nam. Hoặc nói về Tây Thi 西施 gái nước Việt, một người kiếm củi họ Thi, dệt vải ở núi Trữ La, Gia Lãm, thuộc nước Việt cổ - chúng ta lại gom vào mà nhận Tây Thi là gái Việt Nam thì thật là ngu ngơ, đáng chê trách."

Bài 102, Ngũ Khoa Trưởng, Hoàng Khoa Viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng), đây là 2 viên chức Trung Hoa Quốc Dân Đảng, bạn tác giả thực là người Hoa, không thể là bạn Hồ Chí Minh được.

Bài 104, Dương Đào Bệnh Trọng (Dương Đào ốm nặng), một người Tàu bạn tác giả bị bệnh, không liên hệ gì Hồ Chí Minh.

Bài 108, Độc Tướng Công Huấn Từ (Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng), Hồ Chí Minh bị quân Tưởng Giới Thạch bắt, lại là người Cộng Sản, sao lại học lời và ca ngợi Tưởng Giới Thạch?

Độc Tưởng Công Huấn Từ

Bách chiết bất hồi, hướng tiền tiến,
Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán,
Tự hữu thành công đích nhất thiên.

 (Đỗ Văn Hỷ dịch)

Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng

Gian khó không lùi, vẫn tiến lên,
Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Nhất định thành công sẽ có phen.

Theo tác giả Tâm Việt: "Tác giả biết quá khứ thời niên thiếu của lãnh tụ Tưởng Giới Thạch. Trong khi đó ông Hồ và người dịch không biết nên dịch sai câu "Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên" thành "Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên". 辜臣 孽子: Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên là đứa bé tội nghiệp sinh ra không may mắn nên lẽ đương nhiên phải cố gắng tự thân kiếm sống mà thành công. Không có chữ gia, chữ quốc, chữ thù, mà lại dịch là thù nhà nợ nước là thế nào?".

Bài 109, Lương Hoa Thịnh Tướng Quân Thăng Nhậm Phó Tư Lệnh (Tướng quân Lương Hoa Thịnh thăng chức phó tư lệnh), làm gì mà khen cả Tướng của Tưởng Giới Thạch?

Bài 110, Tặng Tiếu Hầu (Hải) (Tặng chú hầu (Hải)), tác giả khuyên ghi khắc lời dạy "cần kiệm liêm chính" của Lương Khải Siêu, Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Một đảng viên Quốc Tế Cộng Sản suốt đời vì đảng mà sao không thấy chỗ nào nhắc gì tới Mác-Lê hay Cộng Sản cả?

Tặng Tiểu Hầu (Hải)

Ấu nhi học dã, tráng nhi hành,
Thượng trung đảng, quốc, hạ trung dân;
Kiệm cần, dũng cảm hòa liêm chính,
Vô phụ Lương công giáo dục tình.

(Đỗ Văn Hỷ dịch)

Tặng chú hầu (Hải)

Bé thì phải học, lớn thì hành,
Với dân, đảng, nước, dạ trung thành;
Kiệm cần, dũng cảm và liêm chính,
Chớ phụ ông Lương dạy dỗ mình.

Những bài còn lại hầu hết thuộc loại tả cảnh, tả tình…

Chẳng thấy "bạo lực cách mạng", "đấu tranh giai cấp" hay "vô sản chuyên chính" đâu cả!?

- - - - -

Nhân vật ông già tên "" được nhắc tới trong cuốn "Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" phải chăng là tác giả?

- - - - -

Các ấn bản Nhật Ký Trong Tù

1- 1950, nxb Viện Văn Học, 114 bài.

2- 1985, nxb Văn Nghệ, 85 bài và dịch ra tiếng Pháp.

3- 1994, nxb Thế Giới, 73 bài và dịch ra tiếng Anh.

4- 2003, nxb Văn Học, 135 bài.

Bài 135 "Tân Xuất Ngục Học Đăng Sơn"

(Kể chuyện HCM vừa ra khỏi ngục và học leo núi, nếu đúng là tác giả tập thơ thì thân đi phải chống gậy còn học leo núi làm gì!?)

Sao bây giờ lại đẻ thêm ra bài thứ 135?

Đảng CSVN giữ tác phẩm rồi úm ba la muốn bầy trò gì thì bầy???

- - - - -

Ý KIẾN CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU

Lời nói đầu của bản in Nhật ký trong tù, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1960, cũng ghi đây là "Cuốn sổ tay của Hồ Chủ Tịch, gồm những bài thơ mà Người đã viết trong cảnh lao tù từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943."

Trong tù thì Hồ Chí Minh lấy đâu ra giấy bút mà viết ngày này tháng nọ, làm một hơi 133 bài thơ và ghi chú chuyện thời sự...?

- - - - -

Về Niên Biểu

Bìa sách ghi ngày 29/8/1932-10/9/1933, lưng sách lại ghi thêm ngày 29/8/1942-10/9/1943. trên chữ "Hoàn" (完, chấm hết) có vẻ thêm vào cho phù hợp với năm tù của Hồ Chí Minh? Còn ngày tháng tù thì chưa hẳn. Một bên dùng chấm, 1 bên dùng gạch ngang.

Theo ông Nguyễn Đình Thi (1924-2003, thuộc thế hệ các nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1995, ông là Chủ Tịch Ủy Ban Toàn Quốc Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật) viết năm 1950 (tài liệu của Nha Thông Tin Việt Bắc) rằng: "Rồi hoạt động ở Tàu 1941-1942, Cụ bị bắt đi trong 62 ngày"

Về Nét Bút

Từ trang đó (ghi chú từ trang 54) trở đi, nét chữ viết khá khác phần thơ. Theo những người biên soạn cuốn sách thì phần sau là phần tác giả dùng làm sổ tay, ghi chép các sự kiện chính trị quốc tế, khu vực và Việt Nam. Đặc biệt hơn là trong phần sổ tay này có nhiều chữ tiếng Việt và tiếng Pháp viết lẫn vào với chữ Hán.

Hai nét chữ khác nhau (phần thơ và trong sổ tay ở phần sau của HCM), chứng tỏ phần sau là phần viết thêm vào để tự nhận là của mình, tức cướp "tác quyền".

Về Số Lượng Bài Thơ

Có nơi thì nói 115 (Harrison S. Salisbury), 120, 133, 134, 150 (Nguyễn Đình Thi)…??? Điều này cho thấy sự bất nhất và thiếu thành thật của nhóm chủ trương đưa ra, cứ thập thò thêm bớt.

Theo Học Giả Lê Hữu Mục

"Họ đánh lừa độc giả trong nước là cuốn sách của tôi (Hồ Chí Minh Không Phái Là Tác Giả Nhật Trung Nhật Ký) ra sau tập sách của họ. Họ nói sách tôi ra năm 1990, còn sách họ ra năm 1989. Sự thật là các bài viết của tôi đã đăng từng kỳ trên tạp chí "Làng Văn" từ năm 1989, đến năm 1990 mới in thành sách. Còn sách của họ phát hành năm 1990, nhưng đề lui năm lại là 1989!

"Lại nữa, đề sách đã là lời thú nhận: "Suy nghĩ lại về Ngục Trung Nhật Ký". Tại sao lại phải suy nghĩ lại, có vấn đề mới phải suy nghĩ lại. Họ xác nhận là trong thời chiến họ phải dùng những lời dao to búa lớn để tuyên truyền, họ thú nhận là đã "cường điệu", mà cường điệu là "exagerate", là lớn lối, bịa đặt thêm. Họ bảo phải làm thế để tạo một quan niệm sáng tác gương mẫu, là phải theo hướng sáng tác như thơ của bác, bình dân và trong thơ phải có thép (chiến đấu tính).

"Trước sau gì chỉ là một vụ bịp, một tấn kịch đóng rất vụng. Hồ Chí Minh úp mở nhận là thơ của mình. Đám nô bộc văn nghệ cung đình dùng ống đu đủ thổi phồng lên rất lố bịch. Một chứng cớ không thể chối cãi là chữ ghi ngoài bìa sách năm tác giả bị tù là 29 – 8 - 1932 đến 10 – 9 - 1933. Năm đó thì Hồ Chí Minh chỉ bị Quốc Dân Đảng bắt và cầm tù ở bên Tầu vào năm 1942 - 1943 thôi. Thời gian cách xa nhau 10 năm trời.

Trong Tổng Tập Văn học của Hà Nội tại tập 38 trang 507 có in lại hình bìa, nhưng lại xóa bỏ ngày tháng tù của nguyên bản. Rõ ràng có sự che giấu, khuất tất.
....

Thân thế tác giả Ngục Trung Nhật Ký
Tâm Việt

Tác giả viết cho ai?
Chắc chắn là không viết cho dân tộc Việt Nam đọc, mà viết cho dân Trung Hoa, chẳng hạn như bài cổ động kháng chiến chống Nhật, ca ngợi Thống Tướng Đảng Trưởng Tưởng Giới Thạch hay bài khen con gà trống cạnh nhà tù bài 52 (Thính kê minh) nhờ tiếng gáy của nó đánh thức dân Tàu dậy mà thực hiện lòng ái quốc.

Địa vị ông thế nào?
Đã có danh vọng sợ mất tiếng tốt sẵn có của mình. "Bả nhân danh dự bạch hy sinh" nghĩa là "Cho người vô cớ mất thanh danh". "Gián điệp hiềm nghi không niết tạo" nghĩa là "Bịa chuyện tình nghi là gián điệp".

Tuổi tác chừng bao nhiêu?
Đã lên tuổi lão phải chống gậy, răng rụng, tóc bạc.

Tâm trạng ra thế nào?
Tức giận vì bị hàm oan, kiêu hãnh vì sự hiểu biết và quá khứ của mình. "Thí vấn dư sở phạm hà tội ? Tội tại vị dân tộc tận trung!" nghĩa là "Thử hỏi chính ta phạm tội gì ? Có phải tội vì tận trung với dân tộc Trung Hoa của mình hay sao!". Bài "Thế nạn hữu mẫn tả báo cáo", làm đơn kiện cho bạn tù.

Thân nhân bạn bè là ai?
Các tướng lãnh trong quân đội Trung Hoa dân Quốc. Bài "Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên" và bài "Hoàng khoa viên lai thám", bạn bè viếng thăm.

Quan niệm chính trị thế nào?
Cần kiệm liêm chính, trước trung với đảng, tổ quốc rồi mới đến nhân dân.

Tác giả yêu nước nào? Trung Hoa Dân Quốc.

Quê hương ông ở đâu?
Túc Vinh, là nơi bị bắt khi ra phố chơi; thuộc huyện Thiên Bảo, Tỉnh Quảng Tây.

Niềm tin tôn giáo nào?
Thờ Quan Công. "Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm" nghĩa là "Mặt trời đỏ sáng mãi như tâm của Quan Công". Đa số người Quảng thờ Quan Công.

Biết ngoại ngữ nào? Tiếng Anh.

Sức chịu đựng khó nhọc?
Rất yếu vì tuổi cao, than vẫn khi bị rụng răng, mất gậy. Vì bị oan nên tinh thần buồn chán nhưng sau đó nhờ có vốn học vấn nên giải khuây bằng việc ngâm thơ, để sau đó gặp bạn hữu là tướng Lương Hoa Thịnh và Tiểu Hầu thiếu tướng giúp đỡ tiền bạc mua giấy mực bút lông mà viết, kể cả làm đơn khiếu nại cho bạn tù.

- - - - - - - - - - - - - -

Hiện giới thiệu trên mạng có 120 bài

1. Vô đề

41. Long An – Đồng Chính

81. Mạc ban trưởng

2. Khai quyển

42. Nhai thượng

82. Thiên Giang ngục

3. Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu

43. Lộ thượng

83. Tháp hóa xa vãng Lai Tân

4. Nhập Tĩnh Tây huyện ngục

44. Trưng binh gia quyến

84. Tha tưởng đào

5. Thế lộ nan

45. Giải trào

85. Lai Tân

6. Tảo

46. Vãng Nam Ninh

86. Đáo Liễu Châu

7. Ngọ

47. Cảnh binh đảm trư đồng hành

87. Cửu bất đệ giải

8. Vấn thoại

48. Điệt lạc

88. Dạ bán

9. Ngọ hậu

49. Bán lộ tháp thuyền phó Ung

89. Đáo trưởng quan bộ

10. Vãn

50. Nam Ninh ngục

90. Tứ cá nguyệt liễu

11. Tù lương

51. Nạp muộn

91. Bệnh trọng

12. Nạn hữu xuy địch

52. Thính kê minh

92. Đáo Quế Lâm

13. Cước áp

53. Nhất cá đổ phạm "ngạnh" liễu

93. Nhập lung tiền

14. Học dịch kỳ

54. Hựu nhất cá

94. ?!

15. Vọng nguyệt

55. Cấm yên (Chỉ yên đích)

95. ?

16. Phân thuỷ

56. Dạ bán văn khốc phu

96. Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ

17. Trung thu

57. Hoàng hôn

97. Chính trị bộ cấm bế thất

18. Đổ

58. Công kim

98. Mông ưu đãi

19. Đổ phạm

59. Thuỵ bất trước

99. Triêu cảnh

20. Nạn hữu Mạc mỗ

60. Ức bạn

100. Thanh minh

21. Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L

61. Thế nạn hữu mẫn tả báo cáo

101. Vãn cảnh

22. Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo

62. Lại sang

102. Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên

23. Tẩu lộ

63. Văn thung mễ thanh

103. Hạn chế

24. Mộ

64. Song thập nhất

104. Dương Đào bệnh trọng

25. Dạ túc Long Tuyền

65. Cảnh báo (Thập nhất nguyệt thập nhị nhật)

105. Bất miên dạ

26. Điền Đông

66. Chiết tự

106. Cửu vũ

27. Sơ đáo Thiên Bảo ngục

67. Lữ quán

107. Tích quang âm

28. Nạn hữu chi thê thám giam

68. Tảo tình

108. Độc Tưởng công huấn từ

29. Các báo: Hoan nghênh Uy-ki Đại hội

69. Việt hữu tao động (Ung báo, Xích đạo tấn 14-11)

109. Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh

30. Tự miễn

70. Anh phóng Hoa đoàn

110. Tặng Tiểu Hầu (Hải)

31. Dã cảnh

71. Giải vãng Vũ Minh

111. Thu cảm

32. Chúc than

72. Bào Hương cẩu nhục

112. Nhân đỗ ngã

33. Quả Đức ngục

73. Trúc lộ phu

113. Trần khoa viên lai thám

34. Long An Lưu Sở trưởng

74. Ngục đinh thiết ngã chi sĩ-đích

114. Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư

35. Tảo giải

75. Công lý bi

115. Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

36. Đồng Chính (thập nhất nguyệt nhị nhật)

76. Tân Dương ngục trung hài

116. Thu dạ

37. Nạn hữu đích chỉ bị

77. Ký Nê Lỗ

117. Tình thiên

38. Dạ lãnh

78. Đăng quang phí

118. Khán "Thiên gia thi" hữu cảm

39. Bang

79. Ngục trung sinh hoạt

119. Tức cảnh

40. Lạc liễu nhất chích nha

80. Quách tiên sinh

120. Kết luận

- - - - - - - - - - - - - -

Một Vài Suy Nghĩ
Sau Khi Đọc Lại Tập Thơ Ngục Trung Nhật Ký
Đỗ Nam Hải

Tường thuật từ Sài Gòn và chị Bảo Khánh ghi lại tại Sydney, Úc vì máy điện toán của anh bị công an tịch thu chưa trả lại.

Ngày 19/5/2008, nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh HCM, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia tại Hà Nội, VN đã tái bản tập thơ NGỤC TRUNG NHẬT KÝ hay NHẬT KÝ TRONG TÙ, được nói của HCM là tác giả viết khi bị quân Tưởng Giới bắt giam tại Quảng Tây, Trung Quốc từ 29/8/1942 đến 10/9/1943. TS Nguyễn Duy Hùng chịu trách nhiệm xuất bản và TS Nguyễn Minh Nghĩa chịu trách nhiệm nội dung.

Theo lời giới thiệu ở trang 7, tập thơ gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán, phần cuối có ghi những sự kiện về quân sự và thời sự.

Tập thơ được cho là: "Một văn kiện lịch sử quan trọng, một tác phẩm văn học xuất sắc, có tác dụng giáo dục sâu sắc, phẩm chất và đạo đức cách mạng trên nhiều thế hệ…".

1- Tâm hồn của tác giả là một người Trung Hoa.

Bài "Song Thập Nhật" thực ra là "Song Thập Nhất"

(11/11, ngày chấm dứt Thế Chiến Thứ 1 (1914-1918))

Ngày 10/10/1911 1à lễ Quốc Khánh Trung Hoa Dân Quốc kỷ niệm cuộc nổi dậy ở Vũ Xương năm Tân Hợi, kẻ thù của CS và không liên hệ gì tới VN.

2- Bài "Kỷ niệm họ Hầu tặng một cuốn sách" trang 267…

Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách (Người dịch: Đỗ Văn Hỷ)

Sách ngài Chủ nhiệm mới đưa sang,
Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang;
Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ,
Chân trời một tiếng sấm rền vang.

Hầu Chủ Nhiệm là Hầu Chí Minh, chủ nhiệm chính trị Chiến Khu 4, đã theo lệnh Tưởng Giới Thạch thả HCM ra.

Là người nước ngoài ở tù mà còn được tặng sách? Tháng 1/1941, HCM về hang Bắc Bó, tháng 5/1941 đã làm lãnh tụ Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh), vậy còn lãnh tụ nào của HCM nữa đây? Đúng là câu chuyện của hai người Hoa chứ không phải người Việt.

dtm11.jpg3- Về tâm tư HCM, sao không thấy lo toan về chuyện đất nước?

Đọc cả tập thơ không thấy nói gì tới danh nhân, địa danh Việt Nam. Trong cuốn "Những Mẩu Truyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" do nxb Văn Học, Hà Nội, phát hành năm 2001, trang 105 và 107… của Trần Dân Tiên tức HCM kể chuyện:

"Đi liền 10 đêm và 5 ngày, cụ Hồ đến một thị trấn Trung Quốc, chưa kịp nghỉ chân thì chiều hôm đó cụ đã bị bắt và gian khổ lại bắt đầu. Quốc Dân Đảng giam cụ vào nhà lao CHS hơn 2 tuần, ngày thì mang gông, đêm đeo cùm. Trong khi cụ Hồ lê lết tấm thân mệt lử từ nhà giam này đến nhà giam khác, có lẽ những việc lớn đang dồn dập trong nước và trên thế giới, ai khuyên bảo đồng chí, ai giúp đỡ và đẩy mạnh việc tổ chức, có lẽ các nước Đồng Minh đã đổ bộ lên Đông Dương, có lẽ Phát-Nhật đã cắn nhau, có lẽ là các đồng chí trong đảng CS Đông Dương và các hội viên của Việt Minh đang đớn đau hỏi nhau cụ Hồ bị tai nạn gì? Lòng cụ Hồ rối như tơ vò vì phải ngồi im vô ích trong khi công việc đang đòi hỏi cụ, mà thời gian đi qua không chờ người…"

Tóm lại là dù ở tù, HCM luôn lo âu về tình hình đất nước, các đồng chí trong đảng CS Đông Dương…"

Thế thì thật vô lý, văn suôi thì thiết tha kể những mối lo gan ruột như thế mà sao trong tập thơ không hề thấy nói gì, dù chỉ 1 dòng tới những chuyện này???

Nếu HCM ở tủ Quảng Tây hơn 1 năm 8/1942-10/1943 mà viết cả tập thơ như vậy, sao khi ở tù Hồng Kông 6/1931-1/1933, gần 2 năm mà không thấy viết chữ nào cả!?

Bài nói chuyện được phát trên VN Sydney Radio ngày 31/8/2008
(sau phần Võ Đại Tôn) và đưa lên mạng.
http://www.vnsr.net/
(từ quá giữa phần 2, sau phần nói chuyện của ông Võ Đại Tôn)

- - - - - - - - - - - - - -

Có người nghi ngờ, có người tin, có người cho là HCM lấy thơ người khác và viết thêm thơ mình vào, lập lờ đánh lận con đen...!?

Nhưng căn cứ vào những chứng cứ hiển nhiên, HCM không thể là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký gốc được.

Tìm hiểu cuốn Ngục Trung Nhật Ký Trên BBC…

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/05/050520_nhatkytrongtu.shtml

Với các góp ý:

Hoa Mai
Tôi đã từng nghiền đi ngẫm lại tập Nhật Ký Trong Tù. Có một điều lạ là sau này trên báo người ta lại đăng thêm một số bài mới được dịch. Không lẽ bản dịch Hán văn đến chữ (khó đến độ nay) mới đủ khả năng dịch nó? Hay còn điêu gì khuất tất? Giọng thơ mà tôi cảm được ở Nhật Ký Trong Tù nghe rất khác với giọng thơ của các bài sau này. Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng ngày tháng bị ghi lộn. Làm sao mà bạn có thể ghi lộn được cái ngày tháng quá nhiều ấn tượng lên cuốn sổ gọi là để đời?

Huy
Nếu trong bài thi của một thí sinh mà có hai nét chữ khác nhau (vần thơ và chữ trong sổ tay), trên bìa sách ngày, tháng trước khi thí sinh thi mười năm, quí vị có nghĩ là bài đó của chính thí sinh đi thi không? Ông Hồ Chí Minh hay dùng những danh ngôn của người khác nói, những người tôn sùng ông đã "lập lờ" là "bác nói". Tôi nghĩ chuyện này cũng không ngoại lệ.

Leo Wong, Toronto, Canada
Ông Hồ có cái tính thích tự tôn sùng bản thân của mình, chả có ai đi viết thơ hay lấy tên khác viết báo để tự ca ngợi bản thân mình như ông Hồ cả. Chưa kể bản thân của ông chụp quá nhiều hình, quay quá nhiều phim mà bản thân ông lại đóng một vai chính như một người rất ư là cao cả, nếu như ông cao cả như người ta tôn sùng hẳn nhiên bản thân ông Hồ phải biết khiêm tốn, đằng này lại ngược lại. Hồi còn học cấp ba, tui cứ thắc mắc mãi tại sao người khác lại rõ đến từng chi tiếc rằng ông Hồ bị đày đi đâu và làm gì mà xuất khẩu thành thơ từ những nơi như thế nếu không nói trắng ra là tự ông Hồ nói ra hoặc CS tự bịa ra. Chưa kể, nhà tù của Tưởng là tù chính trị, không nằm ngoài khả năng thơ của ông Hồ là thơ của người tù chính trị khác!!!

Da Vàng, San Jose
Cũng chẳng có gì lạ, người ta sẽ còn mãi đưa ra những tin thế này. HCM không được mất đúng ngày (3/9/1969 thay vì ông đã qua đời từ ngày hôm trước, 2/9/ 1969), thì cuốn nhật ký lấy gì gọi là đúng ngày chứ. Mà phía quan thầy cũng thế thôi. Stalin cũng đâu được chết đúng ngày đâu mà.

Xét về ý nghĩa, lắm bài trong "Ngục Trung Nhật Ký" chỉ là copy ý tưởng. Ví dụ: Thơ nguyên văn của Trung Hoa: "Quân tại Tương Giang đầu Thiếp tại Tương Giang vỹ Tương giao bất tương thức Đồng ẩm Tương Giang thuỷ.". Thì trong Nhật Ký Trong Tù, lại có thơ: "Quân tại thiết song tiền. Thiếp tại ..." Mà được tạm dịch là: "Anh ở trong song sắt em ở ngoài song sắt gần nhau trong tấc gang mà biển trời cách mặt..." còn nhiều bài trong đó cũng vậy nữa.

Nguyễn Hùng, Hoa Kỳ
Ngục Trung Nhật Ký là một tập thơ vừa có giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng. Cho dù có những ý kiến phảm bác, hay không đồng ý. Thì càng làm cho tác phẩm có giá trị hơn, nổi tiếng hơn và vĩ đại hơn.

Trịnh Chương, Thanh Hóa
Cách mạng VN dựa vào dân là chính, nếu như lấy người làm của mình thì người dân VN sẽ nghĩ thế nào? Hơn nữa tài năng thơ phú của Bác Hồ đã thể hiện qua hàng loạt các bài thơ bác làm gửi tặng đồng bào chiến sĩ.

Cũng đừng quên Bác Hồ sáng lập khá nhiều tờ báo ở nước ngoài. Còn về nhân cách, Người chưa bao giờ nhận riêng công trạng về mình, một đời giản dị vì dân vì nước. Con người tài đức như thế thì làm sao không phải là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký chứ? Nhiều bạn ở đây có khi chưa đọc hết một phần ba tập Nhật Ký đã vội ra ý kiến, như thế chả sai lầm sao. Còn giá trị nghệ thuật tác phẩm thì cứ để người có chuyên môn đánh giá mới thấy hết. Hồi cấp ba mới đọc vài bài thơ trong sách thì sao hiểu được giá trị của nó.

Tony, Canada
Nếu thật ông Hồ Chí Minh viết cuốn Nhật Ký Trong Tù thì nó cũng chỉ có giá trị lịch sử. Riêng tôi đã từng được học trong chương trình phổ thông và thú thật chẳng thấy có giá trị gì về tính văn chương. Chỉ có thể gượng ép ca ngợi theo kiểu ông là nhà quân sự mà viết được như thế là khá lắm rồi. Đem ra mà bình thơ của ông một cách tự do mà không bị bỏ tù tôi chắc là phát hiện ra khối vấn đề buồn cười.

Hoa Cỏ May, Hà Nội
Bác Tony cứ đùa. Ở Việt Nam làm gì có ai bị bắt vào tù vì chê Nhật Ký Trong Tù. Bác thích thì cứ viết thoải mái, chỉ có điều không được xuất bản thành sách báo để đời thôi. Bác cứ tin mấy thằng bất mãn, mấy ông phản động làm gì?

Em thì em không tin Nhật Ký Trong Tù không phải là của ông Hồ. Về giá trị nghệ thuật, em thấy Nhật Ký trong tù có nhiều bài chỉ đơn giản là tả thực, không hay mấy. Nhưng có những bài thì đúng là thơ của thi nhân thiên tài. Ấy là em nhận xét quả bản dịch thôi. Cũng chẳng chen "tính Đảng", "tính giai cấp" tẹo nào đâu nhá.

Hậu Sinh
Hồi tôi vượt biên bị bắt ở trong trại tù thì cách vài tuần lại đột xuất khám xét tư trang, ngay cả vài mảnh giấy báo để dùng cho việc cá nhân cũng bị kiểm tra, thì hoá ra bên Tầu thời họ Tưởng tù chính trị chỉ bị giam thể xác, còn tinh thần thì tự do, được thoải mái làm thơ bất khuất?

Tôi cũng nghe có kẻ ganh ghét đoán già đoán non là Bác Hồ lượm được tập thơ này của một người tù khác đã chết bỏ lại trong tù (?) Vào những năm 1932 đến 1933 thì Bác ở những đâu ? Tôi không biết người ta có thể kiểm tra hai ghi chú ngày tháng trong tập thơ, cái nào trước cái nào sau, có phải do cùng một người viết,và tại sao lại như vậy?
 

- - - - - - - - - - - - - -

Có thể xem thêm "Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh", Giáo Sư, tác giả cho là bị đưa lên mạng ngoài ý muốn, Chương VII: Hồ Chí Minh (trang 121-131), hé lộ thêm một số chi tiết về Hồ Chí Minh và Ngục Trung Nhật Ký…

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh lên tiếng về việc hồi ký của ông bị đưa lên mạng.

 Thụy Khuê

Gs Nguyễn Đăng MạnhBài đăng ngày 13/09/2008 Cập nhật lần cuối ngày 15/09/2008 10:46 TU

"Tôi là người hoạt động trong lãnh vực văn hoá nghệ thuật và tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc tranh luận tư tưởng trong văn học, suốt trong mấy chục năm. Tôi cũng trực tiếp tiếp xúc với hàng loạt nhà văn, vì thế cũng biết nhiều chuyện. Những tư liệu ấy có thể phản ánh được nhiều phương diện của nền văn học Việt Nam hiện đại." (Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh)

1. Audio trả lời phỏng vấn. http://www.rfi.fr/actuvi/articles/105/article_991.asp

2. Reading  http://www.box.net/shared/6rbtbq2x14
 

Chương VII: Hồ Chí Minh

Tôi được tận mắt thấy Hồ Chí Minh hai lần.

Lần thứ nhất ngay sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa tháng tám 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về Thị xã Bắc Ninh. Tôi tiếp tục học cấp II ở trường Hàn Thuyên.

Một hôm được tin Hồ Chủ Tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ Tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới.

Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.

Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô "Hồ chủ tịch muôn năm!"

Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ lanh lẹn - ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.

Hồi đó, ở Bắc Ninh, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động khá mạnh. Đã có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở Thị Cầu. Chắc vì thế nên Ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

Lần thứ hai tôi được thấy Hồ Chủ Tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó, hồi tôi công tác ở trường Đại học Sư phạm Vinh.

Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho Ông gặp đồng bào ở một cái sân vận động của thị xã.

Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre - có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên đó với một số cán bộ Tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi người:

- Đảng lao động Việt Nam Muôn năm!

- Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm!

Ông Hồ vung tay rất cao.

Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội rụt tay xuống.

Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.

Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

Hồ Chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn, không lưu loát. Có chỗ lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang nói dở một câu tục ngữ: "Thanh cậy thế, Nghệ cậy..." thì vội ngừng lại và lảng sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả lại "cậy thần" là thần nào, thần Hồ Chí Minh à? Tôi chắc ông nghĩ thế nên không nói tiếp câu ấy nữa.

Năm 1969, tôi chuyển ra công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn học Việt Nam hiện đại. Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về Hồ Chí Minh như Hoàng Văn Hoan, Lê Quảng Ba, hoạ sĩ Diệp Minh Châu, Vũ Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về Ông Hồ, trước hết là chung quanh sự kiện Ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật kí trong tù.

Ông Hồ về PắcBó đầu năm 1941 ngày 28 - 01, tháng 8 - 1942 ông trở lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và mua vũ khí về cho Việt Minh.

Ông Lê Quảng Ba cùng đi với Ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê Quảng Ba. Ba bị đau, cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, Ông Hồ vừa đi vừa kể Chinh phụ ngâm. Vừa kể vừa giảng. Té ra xa nước ba muơi năm, Hồ Chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh phụ ngâm.

Nhưng Lê Quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, Ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông có một thanh niên Trung Quốc tên là Dương Đào - tất nhiên cũng là một cơ sở cách mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt (ngày 27 - 8 - 1942).

Không phải Ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ Chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở PắcBó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.

Nhưng cảnh sát Tầu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế! Điều này tác giả Nhật kí trong tù cũng đã nói rõ trong thơ của mình:

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian

(Đường đời hiểm trở)

Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;
Tuy bị tình nghi là gián điệp,
Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

(Đi Nam Ninh)

Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt... nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người sang Tầu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt tin tức, các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc, thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.

Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển Hồ Chí Minh sang chế độ nhà tù khác. Trong Nhật kí trong tù, bài Bốn tháng rồi có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cũng cực khổ của Ông Hồ - "Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn mười năm trời"

Chuyển sang chế độ nhà tù mới, Ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều sách báo. Tưởng Giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này ông Trần Dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng chú ý là, Nhật kí trong tù có tất cả 133 bài tuyệt cú thì bài Bốn tháng rồi là bài thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì sao vậy? Vì Hồ Chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm "Tam dân chủ nghĩa" của Tôn Trung Sơn, đọc sách của Tưởng Giới Thạch tặng (Cuốn "Trung Quốc đích mệnh vận")...

Nguyên bản Nhật kí trong tù đâu chỉ có thơ. ở cuối tập Nhật kí còn có tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc báo lan, và những thu hoạch từ các sách đã đọc gọi là Độc thư lan

Mới biết, viết bài Mở đầu (Khai quyển) Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh đã nói thật lòng mình:

Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

Hồ Chí Minh được bọn Tầu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên, chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.

Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu Chí Minh (Trong Nhật kí trong tù ông Hồ gọi là Hầu chủ nhiệm (Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu)) cùng với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi (tháng 12 – 1943). Trong liên hoan, họ có thử tài nhau bằng thách đối.

Nguyễn Hải Thần đưa ra một vế đối khá hóc hiểm:

"Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh"

Ông Hồ xin đối:

"Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách"

Mọi người tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi: "Đối hay lắm!". Còn Nguyễn Hải Thần thì cung kính nói: "Hồ Tiên Sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục!"

Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt: nhảy điệu Nga - la - tư. Một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.

Trong Nhật kí trong tù và hồi kí Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông Hồ có nói, khi mới ra tù "chân mềm như bún", đi không được, phải tập leo núi rất khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhẩy điệu Nga - la - tư?

Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không phải Hán gian, nhà chức trách Trung Quốc cho ông được hưởng chế độ quản thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt (Cho nên mới có chuyện, ở Liễu Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương Phát Khuê). Khoảng giữa tháng 9 - 1943, sau một thời gian tập luyện, cuối cùng ông Hồ chẳng những đi vững mà còn trèo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Ông cao hứng làm một bài thơ chữ Hán:

Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần
Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,
Nam vọng trùng dương ức cố nhân

(Vừa đi đường vừa kể chuyện)

Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao Bằng (Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo). Võ Nguyên Giáp, trong tập hồi kí Những chặng đường lịch sử cho biết: "Bữa ấy, tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Đông, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:

- Anh xem có đúng là chữ của Bác không?

Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, trên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ Bác, Bác viết: "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. ở bên này bình yên"

Phía dưới lại có một bài thơ".

Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu (9 - 1943) trước cuộc liên hoan tiễn chân nói trên 3 tháng (12 - 1943)

Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong buổi liên hoan tiễn cụ Hồ về nước hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi theo Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần.

Về tập Nhật kí trong tù, có người nói, ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra khỏi tù. Thực ra không phải.

Ngày 16 - 9 - 1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật kí trong tù vẫn được ông giữ cẩn thận.

Ngày 14 - 9 - 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu: "Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng". Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bầy ở phòng "Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương"

Nhật kí trong tù hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết hoạ sĩ Diệp Minh Châu từng sống với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp hoạ sĩ ở nhà riêng.

Hai vợ chồng cùng là hoạ sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có thể nói là tanh bành. Đất sét, thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân... bằng đất sét.

Cách trò chuyện của Diệp Minh Châu cũng vậy. Chuyện nọ sọ chuyện kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.

ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu ở với Hồ Chủ Tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội hoạ, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn với Hồ Chủ Tịch.

Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo: "Chú cứ ăn trước đi". Tất nhiên Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với hoạ sỹ: "Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm!"

Diệp Minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ Chí Minh vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng chí của mình: Người ta đang sùng bái Staline, Mao Trạch Đông, không chịu nghe Hồ Chí Minh, chắc thế. (Staline vốn không coi Hồ Chí Minh là cộng sản chân chính. Ông Phạm Văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người cùng công tác ở Liên Xô): Năm 1950, Staline triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich).

ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật kí trong tù: "Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành, ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ". Thì ra đối với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật kí trong tù như một tập thơ, ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi, thế thôi. (Trong Vừa đi đường vừa kể chuyện, ông đã nói như thế).

Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: "Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi"

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.

Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong Anh em nhà Karamadôp: "Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều khi tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (...) thế những tôi lại không thể sống chung với bất kì ai trong một căn phòng". Đó là loại người mà Dostoievsky gọi là chỉ có "tình yêu mơ mộng" chứ không có tình yêu thực sự. Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.

Anh Trần Việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho anh ta ăn. Anh lính không dám ăn vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ nói: Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ.

Hồ Chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi người, tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người: Hồi kháng chiến chống Pháp, hoạ sĩ Dương Bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt (Chắc là Dương Bích Liên thích vẽ Hồ Chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ chăng?). Tố Hữu quyết định cho Dương Bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi ông Hồ biết chuyện này thì Dương Bích Liên đã đi rồi. Hồ Chí Minh không bằng lòng với cách đối xử như thế. Ông cho người đuổi theo mời hoạ sĩ trở lại để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình thường. Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có khi Hồ Chí Minh cũng phải "diễn" những điều trái với bản chất của mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!", ông nói: "Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!" Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ. Hoạ sĩ Dương Bích Liên, hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi (Người ta nuôi một con bò để lấy sữa cho ông).

Theo Trần Đăng Ninh (Tô Hoài kể lại), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn viên cho đỡ nhớ - hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.

Hà Huy Giáp cho biết: Một hôm linh mục Phạm Bá Trực gặp ông Hồ, bảo ông là surnature - ông Hồ nói: "Chúng mình là contrenature".

Hà Huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ Chủ Tịch. Ông kể chuyện hồi năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và ở với Cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ: "Sao Bác không lấy vợ mà chịu được". Ông Hồ nói: "Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là 40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi. Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày, mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng. Nên mặc quần áo vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu. Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi "nhàn cư vi bất thiện".

Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư kí riêng của cụ Hồ.

Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết thêm gì về Hồ Chí Minh. ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn Trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi: "Các đồng chí có bao nhiêu nữ?"

Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế: Để râu dài. áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy...

Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.

Về chuyện làm thơ của Hồ Chí Minh, tôi vẫn cho rằng, ông Hồ có ý thức sáng tác hai loại: một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt minh hoạ đường lối chính trị. Những bài thơ chúc Tết, mừng xuân cũng thuộc loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ thuật diễn đạt tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có cách gì để làm việc cho cách mạng.

Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã phê phán tôi về sự phân biệt này: Thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách mạng sao lại bảo là để giải trí.

Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.

Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn của cụ Hồ: khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sửa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập thể như thế!

Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều nơi mời đi nói chuyện về thơ Hồ Chủ Tịch. Thường có chị Trần Thị Tuyết cùng đi để ngâm thơ minh hoạ. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ Chủ Tịch còn sống, vào dịp cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc Tết của Chủ tịch và phát luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ Chính trị. Khi ngâm thơ chúc Tết, chị để ý thấy ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông thường bảo chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.

* *
*

Chung quanh Hồ Chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

- Chẳng hạn, chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị em.

Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên trong cuốn Đêm giữa ban ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở Đại học Sư phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể trên internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá: điều này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe doạ cô, nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích, không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao Bằng.

Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì, cứ phơi quần, slip... rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. Nhưng cô này hói đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy – lấy vì mục đích chính trị – chắc ông nói cho vui.

Tô Hoài cũng cho biết, Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tầu, có lần cùng đi với Hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói: "Không có vợ, khổ thế!"

- Còn chuyện xuất dương của Hồ Chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng?

Anh Nguyễn Nguyên (tức Nguyễn Ngọc Lương), một cán bộ tình báo cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn Tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang Trung Quốc theo đường dây của Phan Bội Châu. Tất Thành đóng vai một người bán nước mắm, từ Nghệ An ra – giao liên là cô Chu Bích Viêm, tức bà Cả Chính (Nguyễn Nguyên đã gặp bà Cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan Bội Châu ở Hải Phòng lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở ở Móng Cái là hai cô con gái ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.

Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.

Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.

Sau này, cụ Nguyễn Sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho Nguyễn Tất Thành đi Pháp.

- Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh?

Theo Hà Huy Giáp, người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. Ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài liệu: khi thành lập đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ (chế độ công điền khiến địa chủ không phát triển được, vì thế địa chủ ở Việt Nam có thể phân hoá được. Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi, thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc Tư Khoa và đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

Xem chừng Hồ Chí Minh thích tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên hơn. ông từng dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây, Trung Quốc. Và "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" chính là khẩu hiệu cách mạng của Tôn Trung Sơn.

Lại có chuyện này: Nguyễn Hữu Đang có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến:

Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị sớm quá! ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt Nam chính thể quân chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp hơn với nước mình. Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần Huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại, nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện lỡ rồi, ông chỉ còn biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi (ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh). Hồi mới sang Pháp, Nguyễn Tất Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh (cùng với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường). Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.

Ngoài ra, từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris (1946), Hồ Chí Minh đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính quyền Sài Gòn.

- Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt đại chiến thế giới thứ hai và cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.

Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài Diễn ca lịch sử nước ta: "Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành", thì ở hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Staline, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.

Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

Trần Quốc Vượng kết luận: Cụ Hồ có tử vi.

Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở thư viện quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho Cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ Cụ Hồ.

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: "Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

- Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?

- Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú - Ông Hồ trả lời như vậy.

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do "các chú".

- Một câu hỏi khác đặt ra: Cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình không? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay lại nói ông có ý thức thần thánh hoá? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa - Về mặt này, ông Hồ cũng khá "siêu" đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường. Cho nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần Quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần Huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình ứng vào Cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ Chí Minh hay chỉ là "sáng kiến" của Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ? Nhưng ông Trần Dân Tiên viết Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn hiện trong mây. Mà Trần Dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai!

- Như đã nói, vì lí do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch, sống cứ phải "diễn" như thế, kể cũng khổ. "Không có gì quý hơn độc lập tự do". "Diễn" tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa! Liệu đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này?

Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức, có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh ở hội nghị Fontainebleau về nước có Trần Hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, Cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với các thuỷ thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí Minh nữa. Theo Tô Hoài, ông ta sau này về sống ở Nha Trang. Nhưng Hoàng Ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác: Trần Hữu Tước sau này có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.

- Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ Chí Minh. Ngày sinh cũng do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9)

Theo Hoàng Ngọc Hiến, ông Hồ chủ động chết vào cái ngày lịch sử ấy. Ông ấy đáo để lắm đấy! Một người quyết lấy lại họ Hồ là dòng máu thật của mình (Hồ Sĩ Tạo) thì cũng có thể quyết chết vào đúng ngày sinh của cả nước, ngày mà ông đọc Tuyên ngôn độc lập.

- Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh mình – Tôi cãi lại Hiến.

- Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ. Lúc ấy chỉ cần dứt hết những dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao! – Hiến khẳng định thế. Một phán đoán không phải là không có lý!

Hà Nội, ngày 6.7.2006

Nguồn: vietnamexodus.org


Đọc thêm:

Phương Nam (Đỗ Nam Hải),  Một vài suy nghĩ sau khi đọc lại tập thơ NHẬT KÝ TRONG TÙ, 2008.
Lê Hữu Mục, về HUYỄN THOẠI Hồ Chí Minh, 2003.
Phan Thanh Tâm, Hai Tập Thơ Tù: Nguyễn Chí Thiện & Hồ Chí Minh 2008.
Tâm Việt, Ngục Trung Nhật Ký của Hồ Chí Minh? 2007.